Ông Huỳnh Văn Nén phải chứng minh ra sao?

| Chuyên mục: Tin tức tổng hợp | 451 Views

Không ít người băn khoăn về yêu cầu bồi thường 18 tỷ đồng của ông Huỳnh Văn Nén. Liệu ông Nén có được bồi thường đúng như nguyện vọng trên và vấn đề chứng minh việc bồi thường sẽ như thế nào?  Xem thêm ket qua xo so da nang hôm nay tại đây. 

Mới đây, gia đình ông Huỳnh Văn Nén cho biết đã gửi đơn lên Cục Bồi thường Nhà nước – Bộ Tư pháp, yêu cầu bồi thường oan sai trong hai bản án kết tội giết bà Dương Thị Mỹ (năm 1993 còn gọi là “kỳ án vườn điều”) và vụ sát hại bà Lê Thị Bông (năm 1998 tại xã Tân Minh) huyện Hàm Tân, Bình Thuận.

Ông Nén đòi bồi thường tổng cộng 18 tỷ đồng cho các khoản: Bị bắt giam oan, tổn thất tinh thân, chi phí kêu oan…

Vụ án oan Huỳnh Văn Nén được dư luận đặc biệt quan tâm, bởi ông Nén là người duy nhất trong lịch sử tố tụng Việt Nam mang 2 án oan về tội Giết người. Sau gần 17 năm ngồi tù, cuối năm 2015, Công an tỉnh Bình Thuận đình chỉ điều tra đối với ông Nén sau khi tìm ra hung thủ giết bà Bông. Không lâu sau ông được TAND tỉnh công khai xin lỗi tại địa phương. Bên cạnh đó là thông tin xo so kien giang hôm nay,.

Không ít người băn khoăn về yêu cầu bồi thường 18 tỷ đồng của ông Huỳnh Văn Nén. Liệu ông Nén có được bồi thường đúng như nguyện vọng trên và vấn đề chứng minh việc bồi thường sẽ như thế nào?
Ông Huỳnh Văn Nén yêu cầu bồi thường 18 tỷ đồng cho những năm tháng tù oan.
Ông Huỳnh Văn Nén yêu cầu bồi thường 18 tỷ đồng cho những năm tháng tù oan.

Theo  tờ soi cau mien bac Để rộng đường dư luận, PV báo Người đưa tin đã có cuộc trao đổi với luật sư Giang Văn Quyết, Giám đốc công ty luật TNHH Tôi Yêu Luật, Đoàn luật sư TP. Hà Nội.

PV: Thưa luật sư, sau gần nửa năm được xin lỗi công khai, ông Nén gửi đơn đến các cơ quan chức năng yêu cầu bồi thường 18 tỷ đồng cho hai bản án giết người bị oan. Luật sư, đánh giá gì về yêu cầu này của ông Nén.

Theo Thông tư liên tịch số 05/2012 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Tòa án nhân dân tối cao – Bộ Công an – Bộ Quốc phòng – Bộ Tài chính thì người đã chấp hành xong hoặc đang chấp hành hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân, người đã bị kết án tử hình, người đã bị thi hành án tử hình thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 26 Luật Trách nhiệm bồi thường nhà nước được bồi thường thiệt hại khi có bản án, quyết định của Tòa án có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội hoặc hành vi của người đó không cấu thành tội phạm.  Các bạn quan tâm kqxsmb xem chi tiết tại đây.

Như vậy, ông Nén hoàn toàn có quyền yêu cầu đòi bồi thường.

PV: Nhiều người đang băn khoăn về khoản tiền đòi bồi thường 18 tỷ đồng của ông Nén. Theo luật sư thì ông Nén phải chứng minh những gì để được bồi thường.

Trước hết là ông Nén và cơ quan có trách nhiệm bồi thường có quyền thỏa thuận về số tiền bồi thường. Trường hợp không thỏa thuận được thì phải chứng minh.

Thông tư liên tịch số 05 hướng dẫn thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự có những quy định khá cụ thể về vấn đề này.

Thiệt hại thực tế được bồi thường là thiệt hại có thực mà người bị thiệt hại phải gánh chịu, bao gồm: thiệt hại về vật chất và thiệt hại do tổn thất về tinh thần.

Thiệt hại về vật chất là những thiệt hại do tài sản bị xâm phạm; thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút; thiệt hại do tổn hại về sức khỏe và chi phí thực tế người bị thiệt hại đã bỏ ra trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử như: chi phí thuê người bào chữa, chi phí tàu xe, đi lại.

Đối với thiệt hại về tinh thần thì là các thiệt hại do tổn thất về tinh thần trong thời gian bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù;

Thông tư liên tịch số 05 cũng đã hướng dẫn cụ thể cách xác định các thiệt hại nêu trên từ các Điều 6 đến Điều 11.

PV: Vâng, xin cảm ơn luật sư

Điều 6. Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm

1. Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm được xác định theo Điều 45 Luật TNBTCNN. Khi áp dụng Điều 45 Luật TNBTCNN, cần lưu ý một số điểm sau đây:

a) Giá thị trường quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 45 Luật TNBTCNN là giá thị trường tại thời điểm giải quyết bồi thường và tại địa phương nơi xảy ra thiệt hại;

b) Trường hợp thiệt hại phát sinh do việc không sử dụng, khai thác tài sản cho thuê mà trước khi bị kê biên đã có hợp đồng thuê tài sản đó, thì thu nhập thực tế bị mất được tính vào thiệt hại được bồi thường được xác định như sau:

– Đối với hợp đồng cho thuê tài sản là hợp đồng thuê hoạt động thì thu nhập thực tế bị mất được xác định theo mức giá thuê của tài sản cùng loại hoặc tài sản có cùng tiêu chuẩn kỹ thuật, tính năng, tác dụng và chất lượng tại thời điểm giải quyết bồi thường;

– Đối với hợp đồng cho thuê tài sản là hợp đồng thuê tài chính thì thu nhập thực tế bị mất là giá trị còn lại của hợp đồng.

c) Trường hợp tài sản bị xâm phạm là quyền sử dụng đất, nhà ở, công trình xây dựng và tài sản khác gắn liền với đất thì thiệt hại được bồi thường được xác định theo Điều 45 Luật TNBTCNN và các quy định của pháp luật về đất đai, xây dựng và nhà ở.

2. Thời gian tính lãi đối với các khoản tiền quy định tại khoản 4 Điều 45 Luật TNBTCNN được tính từ ngày người bị thiệt hại nộp tiền vào ngân sách nhà nước, bị tịch thu, thi hành án, đặt tiền để bảo đảm tại cơ quan có thẩm quyền đến ngày ban hành quyết định giải quyết bồi thường của cơ quan có trách nhiệm bồi thường hoặc ngày bản án, quyết định của Tòa án về việc giải quyết bồi thường có hiệu lực pháp luật.

Điều 7. Thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút

1. Người bị thiệt hại (kể cả trường hợp đã chết) chỉ được bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất trong thời gian họ bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù.

2. Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại được xác định như sau:

a) Căn cứ để xác định thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại quy định tại Điều 46 Luật TNBTCNN;

b) Trường hợp trước khi bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù mà người bị thiệt hại có thu nhập ổn định từ tiền lương trong biên chế, tiền công từ hợp đồng lao động, thì căn cứ vào mức lương, tiền công của tháng liền kề trước khi người đó bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù để xác định khoản thu nhập thực tế bị mất;

c) Trường hợp trước khi bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù mà người bị thiệt hại có việc làm và hàng tháng có thu nhập thường xuyên, nhưng có mức thu nhập khác nhau, thì lấy mức thu nhập trung bình của 03 tháng liền kề trước khi bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù làm căn cứ để xác định khoản thu nhập thực tế bị mất;

d) Trường hợp trước khi bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù mà người bị thiệt hại là nông dân, ngư dân, người làm muối, người trồng rừng, người làm thuê, người buôn bán nhỏ, thợ thủ công, lao động khác, thực tế có thu nhập, nhưng theo mùa vụ hoặc không liên tục, thì lấy mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại tại địa phương. Mức thu nhập trung bình do chính quyền địa phương nơi người bị thiệt hại cư trú xác định. Trường hợp không xác định được mức thu nhập trung bình thì tiền bồi thường được xác định theo mức lương tối thiểu chung do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường (sau đây gọi chung là lương tối thiểu) làm căn cứ để xác định khoản thu nhập thực tế bị mất.

3. Người bị thiệt hại đã được cơ quan, người sử dụng lao động trả lương, trả tiền công lao động theo quy định của pháp luật lao động, bảo hiểm xã hội trong thời gian bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù thì họ không được nhận khoản tiền bồi thường tương ứng. Nếu người bị thiệt hại được cơ quan, người sử dụng lao động trả lương, trả tiền công lao động một phần thì phần còn lại được xác định là thu nhập thực tế bị giảm sút và họ được bồi thường khoản thu nhập bị giảm sút đó.